Doanh nghiệp nào chịu áp lực lớn khi lãi suất tăng?
Doanh nghiệp nào chịu áp lực lớn khi lãi suất tăng?
Mặt bằng lãi suất cho vay và lãi suất qua đêm tăng đáng kể trong đầu tháng 2 đang đặt nhiều doanh nghiệp niêm yết trước áp lực mới. Theo ACBS, lãi suất cho vay bình quân hiện khoảng 7%/năm và có thể tăng lên 8,5–9% trong năm 2026 nếu kịch bản vĩ mô kém thuận lợi. Mức tăng dự kiến 1,5–2 điểm phần trăm, cao hơn tốc độ tăng của lãi suất huy động, cho thấy chi phí vốn của doanh nghiệp nhiều khả năng bước vào mặt bằng mới. Nếu điều chỉnh diễn ra trên diện rộng, áp lực lên dòng tiền và lợi nhuận sẽ gia tăng rõ rệt.
Phân tích của Chứng khoán HSC cho thấy, nếu xu hướng tăng lãi suất kéo dài, nhóm công ty có đòn bẩy tài chính cao và biên lợi nhuận mỏng, ví dụ như Công ty Cổ phần Thép Nam Kim (HOSE: NKG), CTCP Hàng không Vietjet (HOSE: VJC) hay CTCP Dịch vụ Ô tô Hàng Xanh (HOSE: HAX)… sẽ chịu tác động rõ rệt, trong khi các doanh nghiệp sở hữu lượng tiền mặt dồi dào như CTCP Nhựa Bình Minh (HOSE: BMP), CTCP Tập đoàn Hóa chất Đức Giang (HOSE: DGC), Tổng Công ty Máy động lực và Máy nông nghiệp Việt Nam - CTCP (UPCoM: VEA), CTCP Dịch vụ hàng hóa Sài Gòn (SCSC), Tổng Công ty Cảng Hàng không Việt Nam - CTCP (UPCoM: ACV) lại có vị thế phòng thủ tốt hơn.
![]() |
| VJC chịu áp lực lớn nhất từ lãi suất. Nguồn: HSC |
Trong nhóm thép, Nam Kim và CTCP Tập đoàn Hoa Sen (HOSE: HSG) là hai trường hợp nhạy cảm hơn với biến động chi phí vốn. Năm 2025, tỷ lệ nợ thuần/vốn chủ sở hữu của Nam Kim dự kiến ở mức 0,68 lần, Hoa Sen là 0,46 lần. Dù chi phí lãi vay chỉ chiếm khoảng 1,5% doanh thu đối với Nam Kim và 0,5% với Hoa Sen, mặt bằng lãi suất bình quân vẫn quanh 3,0–3,3%, song việc lãi suất dịch chuyển lên một “mặt sàn” mới có thể làm xói mòn lợi nhuận vốn đã chịu áp lực từ biên gộp mỏng. Biên lợi nhuận gộp năm 2025 của Nam Kim dự kiến chỉ đạt 5,3%, Hoa Sen khoảng 12,2%, trong khi hệ số khả năng thanh toán lãi vay (ICR) của Nam Kim ở mức 1,0 lần và HSG 3,4 lần, cho thấy dư địa an toàn không quá lớn nếu chi phí vốn gia tăng.
Ở chiều ngược lại, Thép Hòa Phát (HPG) được đánh giá có cấu trúc tài chính cân bằng hơn. Tỷ lệ nợ thuần/vốn chủ sở hữu năm 2025 khoảng 0,49 lần, chi phí lãi vay tương đương 2,0% doanh thu. ICR năm 2025 ước đạt 6,6 lần, phản ánh khả năng trang trải chi phí lãi vay ở mức an toàn. Sau khi hoàn thành dự án Khu liên hợp Gang thép Hòa Phát Dung Quất 2 trong năm 2025, áp lực vay nợ được kỳ vọng giảm dần trong các năm tới. Với biên lợi nhuận gộp dự kiến 15,7% và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) 12,7%, Hòa Phát tiếp tục là doanh nghiệp thép có sức chống chịu tốt nhất khi lãi suất duy trì ở mức cao.
Trong nhóm vận tải và phân phối ô tô, Ô tô Hàng Xanh nổi lên là trường hợp rủi ro đáng lưu ý. Doanh nghiệp này có tỷ lệ nợ thuần/vốn chủ sở hữu năm 2025 ở mức 0,62 lần, chi phí vay bình quân lên tới 4,6%, cao hơn đáng kể so với nhiều doanh nghiệp sản xuất. ICR năm 2025 ở mức âm, phản ánh lợi nhuận trước lãi vay và thuế không đủ bù đắp chi phí lãi. Biên lợi nhuận gộp chỉ đạt 7,7%, ROE 0,5% và tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) 0,2% cho thấy hiệu quả sinh lời rất hạn chế. Trong kịch bản lãi suất tiếp tục tăng, chi phí lãi vay có thể “ăn mòn” phần lớn lợi nhuận, khiến bảng cân đối kế toán thêm áp lực.
![]() |
| Những doanh nghiệp có thể đứng vững trong bối cảnh lãi suất tăng. |
Với ngành hàng không, Tổng Công ty Hàng không Việt Nam (HOSE: HVN) và Vietjet là hai đại diện có mức độ sử dụng đòn bẩy cao. Vietjet dự kiến ghi nhận tổng dư nợ khoảng 69.000 tỷ đồng năm 2025, trong đó nợ thuần/vốn chủ sở hữu ở mức 2,23 lần; chi phí lãi vay chiếm 4,4% doanh thu và lãi suất bình quân khoảng 6,5%. ICR chỉ đạt 1,1 lần, trong khi biên lợi nhuận gộp khoảng 10,3% và ROE 10,1%. HVN có tỷ lệ nợ thuần/vốn chủ sở hữu âm do vốn chủ sở hữu mỏng, lãi suất bình quân khoảng 5,0% và ICR 11 lần, song cấu trúc tài chính vẫn phụ thuộc lớn vào điều kiện tín dụng và biến động nhu cầu. Đặc thù thâm dụng vốn, chi phí nhiên liệu và chu kỳ ngành khiến nhóm hàng không đặc biệt nhạy cảm khi chi phí vốn tăng.
Ngược lại, một số doanh nghiệp công nghiệp và hạ tầng có vị thế tiền mặt ròng lại ít chịu ảnh hưởng từ lãi suất. Nhựa Bình Minh chỉ có tổng dư nợ khoảng 55 tỷ đồng, tỷ lệ nợ thuần/vốn chủ sở hữu âm 0,70 lần, ICR lên tới 120 lần và chi phí lãi vay gần như bằng 0% doanh thu; ROE dự kiến đạt 44,1%. DGC có nợ thuần/vốn chủ sở hữu âm 0,75 lần, ICR 73,5 lần và ROE 21,3%. VEA cũng duy trì vị thế tiền mặt ròng với ICR 29,2 lần và ROE 27,6%.
Trong lĩnh vực hàng không - cảng hàng không, SCS và ACV tiếp tục thể hiện vai trò phòng thủ. SCS gần như không có áp lực lãi vay, ICR lên tới 2.795 lần, biên lợi nhuận gộp 78,5% và ROE 50,6%. ACV có ICR 230 lần, chi phí lãi vay chỉ 0,2% doanh thu, biên gộp 60,8%. Đây là những doanh nghiệp ít nhạy cảm nhất trước biến động lãi suất nhờ cấu trúc tài chính thận trọng và lượng tiền mặt dồi dào.



