A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+

Xuất khẩu chè tăng gần 30%: Cơ hội tái định vị thương hiệu chè Việt

Tháng 1/2026, xuất khẩu chè tăng mạnh cả về lượng và giá trị. Tín hiệu khởi sắc này đặt ra yêu cầu cấp thiết lấy chất lượng và thương hiệu làm trụ cột nâng tầm chè Việt.

Dịch chuyển thị trường, tín hiệu cho cuộc đua chất lượng

Theo số liệu của Cục Hải quan, tháng 1/2026, Việt Nam xuất khẩu 12.390 tấn chè, đạt gần 21 triệu USD, tăng 28% về lượng và 27% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Trong bối cảnh thương mại nông sản toàn cầu còn nhiều biến động, đây là mức tăng trưởng đáng ghi nhận, cho thấy nhu cầu thị trường đối với chè Việt vẫn duy trì tích cực.

Tháng 1/2026, Việt Nam xuất khẩu 12.390 tấn chè, đạt gần 21 triệu USD, tăng 28% về lượng và 27% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Ảnh: Hồng Thắm

Tháng 1/2026, Việt Nam xuất khẩu 12.390 tấn chè, đạt gần 21 triệu USD, tăng 28% về lượng và 27% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025. Ảnh: Hồng Thắm

Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân chỉ đạt 1.686 USD/tấn, giảm 2,29% so với tháng 12/2025 và giảm nhẹ 0,45% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này phản ánh thực tế quen thuộc, tăng trưởng chủ yếu vẫn dựa vào mở rộng sản lượng, trong khi giá trị gia tăng chưa có bước bứt phá tương xứng.

Cơ cấu thị trường xuất khẩu chè cũng đang có sự thay đổi rõ rệt. Xuất khẩu chè sang Nga, Ấn Độ, Ba Lan tăng mạnh; đặc biệt, thị trường Philippines ghi nhận mức tăng trưởng ba chữ số, tăng 544,7% về lượng và 312,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.

Ở chiều ngược lại, hai thị trường lớn là Trung Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) có diễn biến trái chiều. Xuất khẩu sang Trung Quốc khả quan hơn, trong khi thị trường Đài Loan (Trung Quốc) giảm. Ba thị trường đạt kim ngạch cao nhất trong tháng gồm Pakistan, Đài Loan (Trung Quốc) và Trung Quốc, chiếm 25,8% tổng kim ngạch xuất khẩu chè cả nước.

Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 1,14 nghìn tấn, trị giá 1,52 triệu USD, chiếm 9,2% về lượng; Đài Loan (Trung Quốc) đạt 1,13 nghìn tấn, trị giá 2,2 triệu USD, chiếm 9,16%. Đáng chú ý, Pakistan từng chiếm tới 35,2% tỷ trọng trong tháng 1/2025, trong tháng 1/2026 giảm còn 7,5%, với sản lượng 930 tấn, giảm trên 70% so với cùng kỳ.

Những con số này cho thấy cơ cấu thị trường ngày càng phụ thuộc vào chất lượng, truy xuất nguồn gốc và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật. Khi các thị trường nâng cao yêu cầu về an toàn thực phẩm, dư lượng hóa chất, trách nhiệm môi trường, câu chuyện sản phẩm và hệ thống chứng nhận trở thành “giấy thông hành” bắt buộc. Đây chính là thời điểm ngành chè cần chuyển mạnh từ tư duy “bán nguyên liệu” sang “bán giá trị”.

Thoát “bóng” chè thô giá rẻ, cơ hội định vị lại hình ảnh chè Việt

Trong "bức tranh" chung đó, những mô hình sản xuất gắn với xây dựng thương hiệu vùng nguyên liệu đang cho thấy hướng đi bền vững. Tại xã Yên Bình (tỉnh Thái Nguyên), Hợp tác xã Nông nghiệp Bản Mộc lựa chọn phát triển trà Shan Tuyết theo hướng hữu cơ, chuẩn hóa quy trình và kể câu chuyện văn hóa bản địa.

Hai sản phẩm chủ lực là trà xanh Shan Tuyết và hồng trà Shan Tuyết, được định vị ở phân khúc chú trọng chất lượng và giá trị tự nhiên. Nguyên liệu được thu hái từ những cây trà cổ thụ mọc tự nhiên trong rừng, sinh trưởng ở độ cao trên 800 mét so với mực nước biển.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Ma Văn Thống, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Bản Mộc, cho biết ở độ cao này, khí hậu mát mẻ quanh năm, biên độ nhiệt ngày – đêm lớn, sương mù dày và thổ nhưỡng giàu dinh dưỡng giúp búp trà phát triển chậm, tích tụ hương vị rõ rệt, tạo nên lớp “tuyết” trắng tự nhiên đặc trưng. Nếu nóng vội chạy theo sản lượng, rất khó giữ được hương vị nguyên bản ấy.

Trong bối cảnh nhiều nơi ưu tiên năng suất, hợp tác xã lựa chọn canh tác hữu cơ, hạn chế tối đa hóa chất, chăm sóc thủ công và để cây phát triển theo chu kỳ tự nhiên, chất lượng ổn định và uy tín lâu dài là nền tảng cốt lõi cho xây dựng thương hiệu. Đơn vị đã được cấp chứng nhận hữu cơ PGS, yếu tố quan trọng để tạo niềm tin với người tiêu dùng.

Xu hướng tiêu dùng hiện nay cũng đang ủng hộ cách làm này. Người mua ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, quy trình sản xuất và giá trị sức khỏe thay vì chỉ chú trọng hình thức bao bì. Nhóm khách hàng của hợp tác xã chủ yếu là những người ưu tiên sản phẩm sạch, hữu cơ, có truy xuất nguồn gốc rõ ràng.

Các dòng trà được phân hạng theo mức độ công phu trong chế biến. Hồng trà Shan Tuyết, với quy trình cầu kỳ và thời gian xử lý dài hơn, có giá cao hơn trà xanh truyền thống. Việc định giá dựa trên chất lượng và giá trị lao động, thay vì cạnh tranh bằng giá rẻ, giúp sản phẩm định vị ở phân khúc cao hơn.

Ở góc nhìn khác, trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, ông Hà Đức Thắng, Giám đốc Hợp tác xã sản xuất chè V-Shantea (Phù Yên, Sơn La), cho rằng thực trạng nhiều vùng chè vẫn bán thô với giá rất thấp là điều đáng suy nghĩ. Có những mức giá chè xuất khẩu thấp đến mức gần như không phản ánh đúng giá trị nguyên liệu và công sức người trồng.

Theo ông Thắng, nếu tiếp tục đi theo lối mòn xuất khẩu chè thô, khó có thể cải thiện thu nhập cho nông dân hay tạo giá trị bền vững cho doanh nghiệp. Con đường duy nhất là đổi mới phương thức sản xuất, đầu tư cho tri thức, công nghệ và thương hiệu. “Chúng tôi đang xây dựng thương hiệu V-Shantea với thông điệp “San” là Shan Tuyết, “Tea” là chè, chữ “V” đại diện cho Việt Nam. Thông qua đó, hợp tác xã mong muốn thay đổi cách nhìn của thị trường quốc tế về chè Việt không chỉ chè đen giá thấp, mà là những dòng chè có giá trị cao, chất lượng thực sự và bản sắc riêng”, ông Thắng cho hay.

Xuất khẩu chè tháng 1/2026 tăng gần 30% là tín hiệu đáng mừng, nhưng chưa đủ để bảo đảm vị thế lâu dài. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, chỉ những sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn cao, có câu chuyện rõ ràng và thương hiệu được đầu tư bài bản mới có thể nâng giá trị.

Xây dựng thương hiệu chè Việt không chỉ dừng ở thiết kế bao bì hay quảng bá truyền thông. Đó là quá trình đồng bộ từ vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, hệ thống chứng nhận đến cách kể câu chuyện văn hóa gắn với sản phẩm. Khi người tiêu dùng hiểu và tin vào giá trị ấy, họ sẵn sàng trả mức giá cao hơn.

Tháng 1/2026, xuất khẩu chè sang Nga, Ấn Độ, Ba Lan tăng mạnh. Đặc biệt, xuất khẩu sang Phillipines ghi nhận mức tăng ba chữ số, tăng 544,7% về lượng và tăng 312,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.


Tác giả: Nguyễn Hạnh
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết