A- A A+ | Trong Tăng tương phản Giảm tương phản

Luật Dầu khí (sửa đổi): Tạo dư địa mới cho công nghiệp năng lượng biển

Luật Dầu khí (sửa đổi) mở đường phát triển công nghiệp năng lượng biển, tận dụng hạ tầng dầu khí và thúc đẩy các lĩnh vực năng lượng mới.

Tạo động lực phát triển mới

Trước yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy chuyển dịch xanh và phát huy tiềm năng kinh tế biển, việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho ngành dầu khí có ý nghĩa quan trọng. Đây cũng là cơ sở để tháo gỡ những điểm nghẽn trong hoạt động đầu tư, đồng thời mở rộng dư địa phát triển của ngành trong giai đoạn mới.

Ngày 23/8, tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Dầu khí (sửa đổi) với kết quả 473/475 đại biểu Quốc hội tán thành. Việc thông qua Luật tạo hành lang pháp lý đồng bộ hơn cho hoạt động dầu khí, góp phần tháo gỡ những vướng mắc hiện nay, đồng thời mở rộng không gian phát triển của ngành gắn với chuyển dịch năng lượng, kinh tế biển và mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

TS. Dư Văn Toán, chuyên gia về môi trường, biển và hải đảo, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển.

TS. Dư Văn Toán, chuyên gia về môi trường, biển và hải đảo, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển.

Trao đổi với phóng viên Báo Công Thương, TS. Dư Văn Toán, chuyên gia về môi trường, biển và hải đảo, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, việc Luật Dầu khí (sửa đổi) được Quốc hội thông qua vào thời điểm này có ý nghĩa quan trọng, vừa đáp ứng yêu cầu thực tiễn của ngành dầu khí, vừa kịp thời thể chế hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn phát triển mới.

Theo TS. Dư Văn Toán, Luật Dầu khí (sửa đổi) sẽ góp phần tạo cơ sở pháp lý để triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, cũng như Nghị quyết số 218/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW. Đây là những định hướng quan trọng nhằm phát huy đầy đủ tiềm năng, lợi thế của biển, đưa các ngành kinh tế biển trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng và phát triển đất nước.

Đồng thời, Luật cũng mang tính thời sự, cập nhật và phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, việc hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các điểm nghẽn và tạo môi trường đầu tư thuận lợi hơn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với ngành dầu khí - lĩnh vực đòi hỏi nguồn vốn lớn, công nghệ cao, thời gian đầu tư dài và luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Cũng theo TS. Dư Văn Toán, việc hoàn thiện khung pháp lý cho dầu khí không chỉ nhằm thúc đẩy hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên truyền thống, mà cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế biển và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. “Một hành lang pháp lý rõ ràng, đồng bộ và ổn định sẽ tạo thêm niềm tin cho doanh nghiệp, nhà đầu tư, qua đó huy động nguồn lực cho các dự án dầu khí có quy mô lớn và thời gian triển khai dài”, TS. Dư Văn Toán nhấn mạnh.

Mở không gian năng lượng biển

Đáng chú ý, dư địa phát triển của ngành dầu khí hiện nay cũng đang được mở rộng cùng quá trình chuyển dịch năng lượng. Bên cạnh khai thác dầu khí truyền thống, hệ thống hạ tầng, kinh nghiệm, công nghệ và nguồn nhân lực của ngành có thể tiếp tục được phát huy để tham gia vào những lĩnh vực mới như thu giữ và lưu trữ carbon (CCS) và các hoạt động kinh tế biển có liên quan.

Việc tạo cơ sở pháp lý cho những lĩnh vực mới này sẽ giúp tận dụng tốt hơn các nguồn lực sẵn có, đặc biệt là cơ sở hạ tầng dầu khí và các mỏ dầu khí đã hoặc sắp bước vào giai đoạn cuối đời khai thác. Đây có thể trở thành nguồn lực quan trọng phục vụ quá trình chuyển dịch năng lượng, giảm phát thải và hình thành những không gian tăng trưởng mới cho ngành năng lượng trong dài hạn.

Luật Dầu khí (sửa đổi) tạo động lực cho công nghiệp năng lượng biển, góp phần mở rộng chuỗi giá trị, thu hút đầu tư và phát triển kinh tế biển.

Luật Dầu khí (sửa đổi) tạo động lực cho công nghiệp năng lượng biển, góp phần mở rộng chuỗi giá trị, thu hút đầu tư và phát triển kinh tế biển.

Theo TS. Dư Văn Toán, yêu cầu đặt ra sau khi Luật được thông qua là sớm đưa các quy định vào thực tiễn, bảo đảm sự đồng bộ giữa Luật với các nghị định, thông tư hướng dẫn và những quy định pháp luật có liên quan. Cùng với phân cấp, phân quyền rõ ràng, cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục, nâng cao tính minh bạch và tạo cơ chế đủ hấp dẫn để thu hút nguồn lực xã hội, nhất là các dòng vốn và công nghệ phục vụ những dự án dầu khí, năng lượng mới có quy mô lớn.

Qua đó, Luật Dầu khí (sửa đổi) không chỉ góp phần tháo gỡ những vướng mắc trước mắt của hoạt động dầu khí mà còn tạo nền tảng pháp lý cho một giai đoạn phát triển mới, trong đó ngành dầu khí tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với an ninh năng lượng. Đồng thời từng bước mở rộng sang các lĩnh vực năng lượng mới, đóng góp thiết thực vào mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển xanh và bền vững.

Ngoài ra, TS. Dư Văn Toán cho rằng, Luật Dầu khí (sửa đổi) còn tạo cơ sở để mở rộng năng lực cung ứng dịch vụ, xây lắp, chế tạo và cơ khí dầu khí sang các lĩnh vực năng lượng biển mới. Đồng thời, Luật cũng mở ra dư địa phát triển các dịch vụ kỹ thuật biển như xây lắp, vận hành cáp ngầm dưới đáy biển, đo đạc và khảo sát tài nguyên gió biển, địa chất, địa kỹ thuật biển…

Luật Dầu khí (sửa đổi) có 12 chương, 62 điều, tăng 1 chương và giảm 7 điều so với Luật Dầu khí cũ. Về tổng thể, Luật Dầu khí (sửa đổi) tập trung vào 5 nhóm chính sách lớn: Đơn giản hóa thủ tục và tăng phân quyền; hoàn thiện quy định về hợp đồng, hoạt động dầu khí; chính sách ưu đãi đầu tư; phát triển chuỗi giá trị, dịch vụ kỹ thuật cao và năng lượng ngoài khơi; xây dựng khung pháp lý về giảm phát thải, thu giữ và lưu trữ carbon. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027.

Luật Dầu khí (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua quy định điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí trong phạm vi đất liền, hải đảo và vùng biển của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đối tượng áp dụng luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có liên quan đến điều tra cơ bản về dầu khí và hoạt động dầu khí.

Bình Minh
Thích

Các tin khác

Tin nổi bật