Xây dựng công dân số đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới
Trong dòng chảy của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số đã trở thành xu thế tất yếu. Với Việt Nam, xây dựng công dân số vừa là mục tiêu, vừa là động lực để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước giàu mạnh và thịnh vượng.
Tinh thần đó được khẳng định rõ trong bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm về đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới, trong đó nhấn mạnh: “Kỷ nguyên mới đòi hỏi phải triển khai “đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới”: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc; lấy hòa bình, độc lập, tự chủ, tự cường là nền tảng; đặt người dân là trung tâm của mọi chính sách; coi đóng góp cho cộng đồng quốc tế là trách nhiệm”.
Công dân số góp phần xây dựng “sức mạnh mềm” của đất nước
Khái niệm “công dân số” không chỉ dừng lại ở khả năng sử dụng thiết bị công nghệ hay tham gia môi trường mạng. Công dân số là chủ thể có năng lực số, có ý thức pháp luật, đạo đức và trách nhiệm xã hội trong không gian số; biết khai thác, làm chủ và sáng tạo giá trị trên nền tảng số; đồng thời có bản lĩnh chính trị, giàu bản sắc văn hóa, đủ khả năng hội nhập và cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hóa.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, trên không gian mạng, biên giới địa lý bị xóa nhòa, dòng chảy thông tin, tri thức, dữ liệu diễn ra liên tục, đa chiều. Mỗi cá nhân khi tham gia môi trường số không chỉ đại diện cho chính mình mà còn góp phần thể hiện hình ảnh quốc gia. Do đó, xây dựng công dân số chính là xây dựng “sức mạnh mềm” của đất nước trong kỷ nguyên mới.
![]() |
| Ảnh minh họa: baochinhphu.vn |
Đối với Việt Nam, chiến lược chuyển đổi số quốc gia xác định ba trụ cột: Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Trong đó, Chính phủ số giữ vai trò dẫn dắt, kiến tạo và điều tiết; kinh tế số là nền tảng vật chất, động lực phát triển; xã hội số là môi trường hiện thực hóa các giá trị, mục tiêu phát triển con người. Ba trụ cột này tác động qua lại, quy định và chuyển hóa lẫn nhau theo quy luật biện chứng. Sự thống nhất biện chứng đó phản ánh quy luật khách quan của sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội trong thời đại số, trong đó công dân số giữ vị trí trung tâm, vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là động lực và mục tiêu của toàn bộ tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
Điều này càng có ý nghĩa đặc biệt khi đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển mới với khát vọng vươn lên trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã chỉ rõ: “Phát triển công dân số, trang bị kiến thức, kỹ năng cần thiết để người dân tham gia hiệu quả vào nền kinh tế số và xã hội số”. Như vậy, thay vì chỉ nhấn mạnh đầu tư hạ tầng số, Đảng ta nhấn mạnh phát triển công dân số, tức là phát triển năng lực nội sinh của xã hội.
Hội nhập quốc tế đặt ra yêu cầu mới đối với công dân số Việt Nam
Hội nhập quốc tế hiện nay không chỉ là hội nhập kinh tế mà là hội nhập toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, văn hóa, khoa học - công nghệ. Bài viết “Đẩy mạnh đối ngoại toàn diện ở tầm cao mới” của Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: “Đường lối đối ngoại toàn diện đặt phát triển kinh tế - xã hội làm trọng tâm, coi ngoại giao phục vụ phát triển và hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”.
Chuyển đổi số là cuộc cách mạng toàn diện về tư duy, công nghệ và tổ chức xã hội. Người công dân hôm nay không chỉ “tham gia” mà còn phải “kiến tạo”, không chỉ “thụ hưởng” mà còn “đồng hành và sáng tạo”. Trong bối cảnh đó, công dân số Việt Nam phải đáp ứng những yêu cầu mới như sau:
Thứ nhất, năng lực cạnh tranh toàn cầu. Thị trường lao động ngày nay không còn bó hẹp trong phạm vi quốc gia. Nền tảng làm việc từ xa, kinh tế số, thương mại điện tử cho phép người lao động tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này đòi hỏi công dân phải có kỹ năng số, ngoại ngữ, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng nhanh với công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây.
Thứ hai, bản lĩnh chính trị và “miễn dịch số”. Hội nhập đi liền với sự giao thoa, thậm chí va chạm về hệ giá trị, tư tưởng. Không gian mạng trở thành mặt trận tư tưởng đặc biệt phức tạp, nơi các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước. Công dân số Việt Nam hiện nay vì vậy không chỉ cần tri thức công nghệ mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng nhận diện và phản bác thông tin sai trái, độc hại.
Thứ ba, ý thức pháp luật và trách nhiệm xã hội toàn cầu. Trong môi trường số xuyên biên giới, mọi hành vi vi phạm pháp luật, chuẩn mực đạo đức đều có thể gây hệ lụy lớn, ảnh hưởng đến uy tín quốc gia, dân tộc. Công dân số phải hiểu và tuân thủ pháp luật Việt Nam, đồng thời tôn trọng luật pháp quốc tế, các chuẩn mực ứng xử văn minh trên không gian mạng.
Xây dựng công dân số là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài
Để xây dựng công dân số đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp ở tầm chiến lược, trong đó tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:
Trước hết, đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo theo hướng phát triển năng lực số toàn diện. Giáo dục không chỉ truyền thụ kiến thức mà phải hình thành tư duy số, kỹ năng số và đạo đức số cho người học ngay từ sớm. Chương trình đào tạo cần tích hợp các nội dung về an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, kỹ năng phân tích, đánh giá thông tin trên mạng, ứng xử văn hóa trong môi trường số. Ở bậc đại học và đào tạo nghề, cần tăng cường các ngành, chuyên ngành liên quan đến công nghệ số, đồng thời thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.
Hai là, hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển xã hội số an toàn, lành mạnh. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu, an ninh mạng, giao dịch điện tử; xây dựng các cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, phát triển sản phẩm, dịch vụ số “Make in Vietnam”. Đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao ý thức chấp hành của người dân.
Ba là, xây dựng văn hóa số mang bản sắc Việt Nam. Hội nhập không có nghĩa là hòa tan. Công dân số Việt Nam cần tiếp thu tinh hoa nhân loại nhưng đồng thời giữ gìn, lan tỏa giá trị văn hóa dân tộc. Mỗi hành vi ứng xử trên mạng phải thể hiện tinh thần nhân văn, đoàn kết, tôn trọng sự khác biệt nhưng kiên định với lợi ích quốc gia - dân tộc. Đây cũng là cách để quảng bá hình ảnh Việt Nam thân thiện, trách nhiệm và năng động trong mắt bạn bè quốc tế.
Bốn là, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng công dân số. Bên cạnh vai trò kiến tạo thể chế và hạ tầng của Nhà nước, các tổ chức quần chúng giữ vị trí trực tiếp tuyên truyền, vận động, phổ cập kỹ năng số đến từng tầng lớp nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tăng cường giám sát, phản biện, tạo đồng thuận xã hội đối với các chính sách chuyển đổi số. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tiên phong thúc đẩy sáng tạo số trong thanh niên. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Hội Nông dân Việt Nam hỗ trợ hội viên tiếp cận tri thức, ứng dụng công nghệ trong đời sống và sản xuất, góp phần thu hẹp khoảng cách số, bảo đảm phát triển bao trùm.
Lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam cho thấy, mỗi bước ngoặt lớn của đất nước đều gắn liền với sự trưởng thành của con người Việt Nam. Trong kỷ nguyên số, con người vẫn là trung tâm, là chủ thể của mọi chiến lược phát triển. Công nghệ có thể thay đổi phương thức sản xuất, quản trị và giao tiếp, nhưng chính con người mới quyết định hướng đi và giá trị của sự phát triển đó.
Xây dựng công dân số không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu trước mắt của hội nhập quốc tế mà còn để chuẩn bị cho tương lai lâu dài của dân tộc. Một thế hệ công dân số có tri thức, bản lĩnh, trách nhiệm sẽ tạo nên nền tảng vững chắc để Việt Nam chủ động tham gia định hình các luật chơi quốc tế, đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới. Mỗi công dân phải tự ý thức nâng cao năng lực số, rèn luyện đạo đức và bản lĩnh trong môi trường mạng; biến thách thức của kỷ nguyên số thành cơ hội để khẳng định mình và cống hiến cho Tổ quốc.
Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế đặt ra cả thời cơ và thách thức đan xen. Xây dựng công dân số đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong kỷ nguyên mới vì vậy không chỉ là một nhiệm vụ của riêng ngành, lĩnh vực nào, mà là sự nghiệp chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đó là quá trình lâu dài, đòi hỏi quyết tâm chính trị cao, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và trên hết là sự chủ động, tự giác của mỗi người dân Việt Nam, những công dân số của một quốc gia đang vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.


