A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Gỡ nút thắt tôm hùm bông: Cơ hội tái cơ cấu ngành hàng tỷ USD

Quy định của Trung Quốc với tôm hùm bông tạo áp lực lớn lên ngành hàng xuất khẩu gần 1 tỷ USD, nhưng cũng mở ra cơ hội tái cơ cấu ngành theo hướng bền vững, chủ động hơn.

Thị trường tỷ dân siết chặt yêu cầu với tôm hùm bông

Trong bức tranh xuất khẩu thủy sản năm 2026, Trung Quốc tiếp tục là thị trường tăng trưởng mạnh nhất của Việt Nam. Theo số liệu mới nhất của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong 4 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu thủy sản sang Trung Quốc tăng 48,5% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng cao nhất trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu chủ lực.

Tôm hùm bông. Ảnh: Kim Sơ

Tôm hùm bông. Ảnh: Kim Sơ

Dữ liệu từ Shrimp Insights cho thấy, riêng tháng 4/2026, Trung Quốc nhập khẩu khoảng 93.000 tấn tôm, tăng hơn 30% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm, lượng nhập khẩu đạt hơn 343.000 tấn, với giá trị gần 1,8 tỷ USD. Đáng chú ý, nhu cầu tiêu dùng tại thị trường Trung Quốc đang mở rộng không chỉ ở phân khúc tôm phổ thông mà còn ở các sản phẩm thủy sản cao cấp. Đây là cơ hội lớn đối với ngành tôm hùm Việt Nam, đặc biệt là tôm hùm bông - sản phẩm có giá trị kinh tế cao nhất trong nhóm tôm hùm nuôi.

Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), năm 2025, kim ngạch xuất khẩu tôm hùm đạt khoảng 858 triệu USD, tăng hơn 200% so với năm trước. Trong đó, thị trường Trung Quốc chiếm tới 845 triệu USD, tương đương gần như toàn bộ giá trị xuất khẩu của ngành hàng.

Nhu cầu tiêu thụ mạnh đã giúp Việt Nam trở thành nhà cung cấp tôm hùm lớn nhất cho Trung Quốc, với sản lượng hơn 24.000 tấn, chiếm khoảng một phần ba thị phần. Riêng tôm hùm bông dù sản lượng không lớn bằng tôm hùm xanh nhưng lại mang lại giá trị cao nhờ kích cỡ lớn, chất lượng thịt tốt và giá bán vượt trội.

Tuy nhiên, từ tháng 5/2023, Trung Quốc sửa đổi Luật Bảo vệ động vật hoang dã và đưa tôm hùm bông vào danh mục động vật được bảo vệ cấp độ 2. Theo quy định mới, tôm hùm bông nhập khẩu phải chứng minh được nguồn gốc từ giống nhân tạo thế hệ F2 và không sử dụng con giống khai thác từ tự nhiên. Đây là yêu cầu đang tạo ra thách thức lớn cho ngành tôm hùm Việt Nam. Bởi hiện nay, việc sản xuất giống tôm hùm bông nhân tạo đến thế hệ F2 vẫn chưa được thương mại hóa trên phạm vi toàn cầu.

Tại cuộc họp bàn giải pháp tháo gỡ khó khăn cho xuất khẩu tôm hùm bông, ông Ngô Hồng Phong, Cục trưởng Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, cần tiếp tục trao đổi với phía Trung Quốc để làm rõ cơ sở khoa học cũng như tính phù hợp của yêu cầu này với thông lệ thương mại quốc tế.

Theo ông Nhữ Văn Cẩn, Phó Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, hiện mới chỉ có Australia công bố một số kết quả nghiên cứu về sinh sản nhân tạo tôm hùm bông nhưng vẫn chủ yếu ở quy mô nghiên cứu. Vì vậy, việc áp dụng yêu cầu về nguồn giống F2 trong thương mại quốc tế cần được trao đổi kỹ hơn giữa các cơ quan chuyên môn hai nước.

Cơ quan đầu mối thực hiện Công ước CITES tại Việt Nam cũng cho biết tôm hùm bông hiện không nằm trong các phụ lục của Công ước CITES. Việc chứng nhận nguồn gốc thương phẩm từ giống F2 nhân tạo hiện chưa phải là thông lệ phổ biến trong thương mại quốc tế.

Các đơn vị chuyên môn đều thống nhất rằng nhu cầu tiêu thụ tôm hùm tại Trung Quốc vẫn rất lớn và nguồn cung nội địa của nước này chưa đáp ứng đủ. Vì vậy, trọng tâm hiện nay là làm rõ cơ chế xác nhận nguồn gốc và các yêu cầu kỹ thuật liên quan để bảo đảm hoạt động thương mại được duy trì ổn định.

Giảm phụ thuộc vào một thị trường, hướng tới phát triển bền vững

Bên cạnh những khó khăn trước mắt, nhiều chuyên gia cho rằng đây cũng là thời điểm để ngành tôm hùm nhìn lại những hạn chế tồn tại nhiều năm qua, đặc biệt là sự phụ thuộc quá lớn vào một thị trường xuất khẩu. Thực tế cho thấy, khi gần như toàn bộ kim ngạch xuất khẩu tôm hùm phụ thuộc vào Trung Quốc, bất kỳ thay đổi nào về chính sách nhập khẩu cũng có thể tác động mạnh đến người nuôi, doanh nghiệp và toàn bộ chuỗi giá trị ngành hàng.

Ông Võ Văn Hưng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường nhấn mạnh, cần xem thách thức hiện nay là cơ hội để đánh giá toàn diện tiềm năng phát triển của ngành tôm hùm Việt Nam, từ năng lực nuôi, khả năng nghiên cứu đến định hướng phát triển dài hạn. Theo Thứ trưởng, nghiên cứu và sản xuất giống vẫn là mắt xích yếu của ngành thủy sản Việt Nam. Trong thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục thúc đẩy các chương trình nghiên cứu khoa học, đặc biệt là công nghệ sản xuất giống tôm hùm, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư nghiên cứu theo hướng xã hội hóa nhằm tạo nền tảng phát triển bền vững cho ngành hàng.

Cùng với đó, yêu cầu đa dạng hóa thị trường xuất khẩu đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bên cạnh Trung Quốc, ngành tôm hùm cần mở rộng khả năng tiếp cận các thị trường có giá trị cao như Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu thông qua nâng cao tiêu chuẩn chất lượng, đầu tư công nghệ bảo quản và phát triển các sản phẩm chế biến sâu. Một nhiệm vụ quan trọng khác là hoàn thiện hệ thống quản lý vùng nuôi, cấp mã số cơ sở nuôi, tăng cường truy xuất nguồn gốc và kiểm soát khai thác theo hướng bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu từ các thị trường nhập khẩu mà còn là điều kiện để nâng cao sức cạnh tranh và tính minh bạch của ngành tôm hùm Việt Nam.

Thứ trưởng Võ Văn Hưng đã giao Vụ Hợp tác quốc tế tham mưu xây dựng công hàm gửi phía Trung Quốc nhằm làm rõ các yêu cầu kỹ thuật đối với tôm hùm bông, đồng thời thúc đẩy trao đổi chuyên môn giữa hai bên. Dự kiến trong quý III/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ cử đoàn công tác sang Trung Quốc để tiếp tục đàm phán và tìm giải pháp phù hợp.

Trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ tôm hùm tại Trung Quốc vẫn ở mức cao, dư địa tháo gỡ khó khăn vẫn còn. Tuy nhiên, câu chuyện tôm hùm bông cũng là lời cảnh báo rõ ràng về rủi ro khi phụ thuộc vào một thị trường duy nhất. Về dài hạn, chỉ khi làm chủ công nghệ giống, xây dựng chuỗi sản xuất minh bạch, bền vững và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, ngành tôm hùm Việt Nam mới có thể phát triển ổn định và chủ động trước những biến động của thương mại toàn cầu.

Từ năm 2021, Trung Quốc đưa tôm hùm bông vào danh mục động vật nguy cấp cấp II và từ năm 2023 siết chặt quản lý theo Luật Bảo vệ động vật hoang dã sửa đổi. Theo quy định, tôm hùm bông nhập khẩu làm thực phẩm phải có nguồn gốc nuôi thương phẩm, không sử dụng giống khai thác tự nhiên và con giống phải là thế hệ F2 trở lên.

Trong khi đó, hiện 100% giống tôm hùm bông nuôi tại Việt Nam vẫn được khai thác từ tự nhiên, chưa có cơ sở nào sản xuất hoặc sử dụng giống F2. Đây là rào cản lớn khiến ngành tôm hùm bông khó đáp ứng yêu cầu nhập khẩu của Trung Quốc.

Nguyễn Hạnh
Thích

Các tin khác

Tin nổi bật