TS. Nguyễn Thị Kim Đoan
Học viện Chính trị khu vực III
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới có những biến đổi sâu sắc, tạo ra cả cơ hội và thách thức đối với các quốc gia, đặc biệt là các nền kinh tế đang phát triển. Quá trình toàn cầu hóa tiếp tục diễn ra mạnh mẽ nhưng đồng thời cũng chứng kiến xu hướng điều chỉnh và tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, nhất là sau những biến động lớn của kinh tế thế giới. Cùng với đó, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và kinh tế xanh, đang làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, mô hình kinh doanh và cấu trúc cạnh tranh của nền kinh tế toàn cầu. Đối với Việt Nam, quá trình phát triển trong giai đoạn mới gắn liền với yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong tiến trình ấy, khu vực kinh tế nhà nước, nòng cốt là doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển các ngành, lĩnh vực then chốt và tạo nền tảng cho sự phát triển của các thành phần kinh tế khác. Tuy nhiên, khu vực DNNN cũng bộc lộ không ít hạn chế.
Nhận thức rõ yêu cầu đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phải đổi mới căn bản và toàn diện khu vực DNNN theo hướng hiện đại, minh bạch và hoạt động hiệu quả. Định hướng này được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, trong đó xác định mục tiêu nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn nhà nước, hoàn thiện cơ chế quản trị DNNN theo thông lệ quốc tế, tăng cường đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực DNNN.
Chính vì vậy, đổi mới DNNN không chỉ là yêu cầu nội tại của quá trình tái cơ cấu nền kinh tế mà còn là điều kiện quan trọng để nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng. Đổi mới DNNN cần được triển khai theo hướng nâng cao hiệu quả quản trị, tối ưu hóa việc sử dụng nguồn lực nhà nước, đồng thời phát huy vai trò dẫn dắt của khu vực kinh tế nhà nước trong những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
THỰC TRẠNG ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM
Những kết quả đạt được
Đổi mới DNNN ở Việt Nam là một quá trình diễn ra thường xuyên, liên tục qua các giai đoạn, gắn liền với tiến trình đổi mới toàn diện nền kinh tế. Chủ trương này thể hiện sự nhất quán xuyên suốt trong tư duy và đường lối của Đảng. Bắt đầu từ Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (tháng 11/1991), chủ trương của Đảng về sắp xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN được xác định và một trong những nhiệm vụ đề ra là nâng cao hiệu quả kinh tế quốc doanh, sắp xếp lại, củng cố, tăng cường khu vực kinh tế quốc doanh, tiếp tục đổi mới kinh tế tập thể, loại bỏ những trở ngại đang kìm hãm các thành phần kinh tế khác, tạo ra sức bật mới từ các nguồn lực trong nước để ổn định và phát triển sản xuất.
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết lần thứ 2 Trung ương khóa VII, Đảng đã ban hành Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX (tháng 8/2001) về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả DNNN với mục tiêu: sắp xếp, đổi mới, phát triển, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước để doanh nghiệp nhà nước góp phần quan trọng bảo đảm các sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu của xã hội và nhu cầu cần thiết của quốc phòng, an ninh, là lực lượng nòng cốt đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và tạo nền tảng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ngày 3/6/2017, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả DNNN. Nghị quyết đã khẳng định, DNNN là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng - an ninh.
Tại Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã tiếp tục khẳng định vai trò của doanh nghiệp trong nước, trong đó DNNN cùng khu vực tư nhân giữ vai trò động lực chủ đạo, dẫn dắt phát triển các ngành nền tảng, mũi nhọn và các lĩnh vực chiến lược.
Cùng với đó, Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 16/6/2022, Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đã tạo khuôn khổ thúc đẩy liên kết, huy động nguồn lực và phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp đồng bộ.
Trong bối cảnh thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị, đã đặt ra yêu cầu các tập đoàn, tổng công ty nhà nước và các DNNN tiếp tục phát huy vai trò mở đường, dẫn dắt của DNNN trong nền kinh tế, bảo đảm DNNN là lực lượng tiên phong dẫn đầu trong lĩnh vực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phục hồi nền kinh tế.
Đặc biệt, ngày 6/01/2026 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước. Mục tiêu đề ra là: Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo, tiên phong, định hướng chiến lược của kinh tế nhà nước trong những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, chiến lược; dẫn dắt, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia; thúc đẩy tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao đời sống người dân; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Nghị quyết số 79-NQ/TW đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tư duy và hành động của Đảng đối với thành phần kinh tế đặc biệt quan trọng này.
Nhờ đó, DNNN đã đạt được những kết quả to lớn, góp phần ổn định và phát triển kinh tế trong thời gian qua.
Thứ nhất, chủ trương sắp xếp, cơ cấu lại và thoái vốn nhà nước tại DNNN được triển khai ngày càng thực chất, từng bước thu hẹp phạm vi sở hữu nhà nước ở những ngành, lĩnh vực không cần duy trì tỷ lệ chi phối. Số lượng DNNN được điều chỉnh theo hướng giảm dần, danh mục ngành nghề được cơ cấu lại theo hướng ưu tiên các lĩnh vực như năng lượng, tài chính - ngân hàng, viễn thông, hạ tầng giao thông, logistics, tài nguyên, công nghiệp nền tảng và dịch vụ công ích thiết yếu. Ngày 29/11/2022 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1479/QĐ-TTg phê duyệt kế hoạch sắp xếp lại DNNN, doanh nghiệp có vốn nhà nước giai đoạn 2022-2025, giai đoạn này cổ phần hóa 19 doanh nghiệp (trong đó có một số doanh nghiệp lớn như Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam...), thoái vốn nhà nước đầu tư tại 141 doanh nghiệp (trong đó có một số doanh nghiệp có phần vốn nhà nước cần phải thoái lớn như: Công ty Cơ khí xây dựng, Tổng công ty cổ phần Sông Hồng, Tổng công ty Lắp máy Việt Nam, Tổng công ty Viglacera, Tổng công ty Truyền hình Cáp Việt Nam (VTVcab)....). Thực tế, đến nay, có 119 doanh nghiệp được cấp có thẩm quyền phê duyệt đề án cơ cấu lại. Trong đó, có 9/9 doanh nghiệp thuộc danh mục Thủ tướng phê duyệt; 110/667 doanh nghiệp thuộc thẩm quyền của các bộ, ngành và địa phương. Tỷ lệ phê duyệt đề án ở nhóm doanh nghiệp do các cơ quan đại diện chủ sở hữu quản lý mới đạt khoảng 16,5% (110/667 doanh nghiệp). Những con số này cho thấy, tiến độ triển khai còn khá chậm so với tổng số doanh nghiệp thuộc diện phải xây dựng và phê duyệt đề án cơ cấu lại (Đoàn Thị Kim Dung, Lê Minh Hương, 2026).
Thứ hai, chất lượng quản trị DNNN được cải thiện theo hướng tiệm cận các chuẩn mực quản trị hiện đại. Việc áp dụng các nguyên tắc quản trị tiên tiến, công khai, minh bạch, củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, cải thiện năng lực tài chính và khả năng thích ứng trước biến động của thị trường; nhiều đã triển khai tái cấu trúc tổ chức, tinh giản bộ máy, đổi mới phương thức điều hành và từng bước gắn trách nhiệm của đội ngũ quản lý với kết quả hoạt động. Theo số liệu thống kê, tính đến năm 2025, cả nước có 671 DNNN, mặc dù chỉ chiếm 0,23% tổng số doanh nghiệp nhưng nắm giữ khối tài sản lên tới trên 4 triệu tỷ đồng (chưa tính DNNN là các ngân hàng thương mại Nhà nước). Hiệu quả hoạt động của DNNN ngày càng cải thiện, tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm 2023 đạt 13,1% (so với 2,4% của khu vực tư nhân), năng suất lao động đạt 4,5 tỷ đồng/người, cao hơn các khu vực khác. DNNN đóng góp tới 27,2% tổng thu NSNN toàn quốc (năm 2024) Nguyễn Thu Huyền (2026).
Thứ ba, xu hướng tăng cường liên kết, hợp tác giữa DNNN với khu vực tư nhân trong nước và các đối tác quốc tế ngày càng được mở rộng thông qua các hình thức liên doanh, liên kết, huy động vốn trên thị trường và tham gia chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu. Quá trình này tạo điều kiện để DNNN tiếp cận công nghệ mới, phương thức quản trị tiên tiến, đồng thời góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy lan tỏa công nghệ và cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực trong toàn bộ nền kinh tế.
Thứ tư, việc đổi mới DNNN ngày càng gắn chặt với các mục tiêu phát triển chiến lược quốc gia, đặc biệt trong các lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng, bảo đảm an ninh năng lượng, thúc đẩy chuyển đổi số và triển khai các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia. Trong nhiều ngành, DNNN tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong việc thực hiện các dự án có quy mô lớn, yêu cầu vốn đầu tư dài hạn, công nghệ hiện đại và năng lực tổ chức cao, qua đó góp phần củng cố năng lực tự chủ, nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế và tạo nền tảng cho các mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững trong dài hạn.
Những hạn chế, yếu kém
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình đổi mới DNNN vẫn bộc lộ không ít hạn chế và bất cập, phản ánh những nút thắt mang tính hệ thống trong thể chế và cơ chế vận hành, không chỉ là vấn đề riêng lẻ của từng doanh nghiệp.
Một là, tiến độ cơ cấu lại DNNN, cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước ở một số lĩnh vực còn chậm so với yêu cầu, do vướng mắc về khung pháp lý, định giá tài sản, xử lý đất đai và tâm lý e ngại trách nhiệm trong quá trình ra quyết định. Tình trạng này không chỉ kéo dài quá trình tái cơ cấu, làm tăng chi phí, mà còn hạn chế khả năng huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là đối với các chương trình, dự án có quy mô lớn và ý nghĩa chiến lược.
Hai là, hiệu quả sử dụng vốn và tài sản nhà nước tại một bộ phận doanh nghiệp chưa tương xứng với quy mô nguồn lực nắm giữ; danh mục đầu tư còn dàn trải, chưa tập trung vào các lĩnh vực có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa mạnh và ý nghĩa chiến lược dài hạn. Hạn chế này làm suy giảm vai trò của DNNN trong việc dẫn dắt chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cấp chuỗi giá trị và tạo động lực phát triển cho các khu vực kinh tế khác.
Ba là, chất lượng quản trị doanh nghiệp và cơ chế giám sát ở một số DNNN chưa đáp ứng đầy đủ các chuẩn mực quản trị hiện đại; việc phân định chức năng, trách nhiệm giữa các chủ thể trong hệ thống quản lý và giám sát vốn nhà nước còn chưa thật sự rõ ràng, dẫn đến tình trạng chồng chéo, kéo dài quy trình ra quyết định, làm suy giảm tính tự chủ kinh doanh gắn với trách nhiệm giải trình và kỷ luật thị trường.
Bốn là, năng lực đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và thích ứng với các yêu cầu phát triển xanh của nhiều DNNN còn hạn chế; mức đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, công nghệ nền tảng và các giải pháp giảm phát thải chưa tương xứng với vai trò và quy mô của khu vực này. Điều đó làm giảm khả năng đi đầu của DNNN trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, ảnh hưởng đến vai trò dẫn dắt quá trình chuyển đổi số và chuyển đổi xanh ở tầm quốc gia.
THÁCH THỨC ĐẶT RA ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN MỚI
Việt Nam đang bước vào chu kỳ phát triển mới với mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại và thu nhập trung bình cao vào năm 2030, hướng tới trở thành nước phát triển vào giữa thế kỷ XXI. Trong bối cảnh đó, DNNN tiếp tục được xác định giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển các ngành và lĩnh vực then chốt, dẫn dắt một số lĩnh vực chiến lược của nền kinh tế. Tuy nhiên, khu vực DNNN đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, có thể khái quát thành bốn nhóm chủ yếu sau đây:
Về thể chế và môi trường chính sách
Sự phát triển của nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện khung thể chế đối với hoạt động của DNNN theo hướng minh bạch, phù hợp với các chuẩn mực quản trị quốc tế. Việc thực thi các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA và RCEP đòi hỏi Việt Nam phải bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đồng thời hạn chế các hình thức hỗ trợ hoặc can thiệp hành chính có thể làm méo mó thị trường. Trong bối cảnh đó, mô hình quản lý DNNN truyền thống dựa nhiều vào cơ chế quản lý hành chính cần được điều chỉnh theo hướng phân định rõ ràng giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Nếu quá trình hoàn thiện thể chế diễn ra chậm hoặc thiếu đồng bộ, DNNN có thể gặp khó khăn trong việc thích ứng với môi trường cạnh tranh ngày càng minh bạch và chuẩn hóa theo các thông lệ quốc tế.
Về quản trị và hiệu quả hoạt động
Một trong những vấn đề được nhiều nghiên cứu chỉ ra là hiệu quả hoạt động của khu vực DNNN vẫn còn khoảng cách nhất định so với khu vực doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Theo số liệu của Cục Thống kê Việt Nam, khu vực DNNN hiện chỉ chiếm khoảng 0,4-0,5% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, nắm giữ khoảng 25- 28% tổng vốn sản xuất kinh doanh của toàn bộ khu vực doanh nghiệp, đóng góp vào GDP khoảng 27- 29%. Mặc dù nắm giữ nguồn lực đáng kể trong nền kinh tế, song hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của DNNN vẫn chưa tương xứng. Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) và trên vốn chủ sở hữu (ROE) của khu vực doanh nghiệp FDI cao hơn đáng kể so với khu vực DNNN.
Cạnh tranh thị trường và hội nhập quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, môi trường cạnh tranh của các doanh nghiệp ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Nhiều lĩnh vực trước đây do DNNN giữ vai trò chi phối đang dần mở rộng cho sự tham gia của khu vực tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài. Điều này tạo ra áp lực cạnh tranh ngày càng lớn đối với các DNNN trong các ngành như logistics, viễn thông, năng lượng và tài chính. Trong điều kiện các ưu thế truyền thống của DNNN từng bước thu hẹp, khả năng cạnh tranh của khu vực này sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào việc cải thiện năng suất, đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp.
Chuyển đổi công nghệ và chuyển đổi xanh
Sự phát triển mạnh mẽ của chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc mô hình hoạt động của doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực. Đối với khu vực DNNN, quá trình này đòi hỏi phải đầu tư đáng kể vào hạ tầng công nghệ, hệ thống quản trị dữ liệu và các nền tảng quản lý hiện đại, tuy nhiên, nhiều DNNN vẫn đang vận hành trên cơ sở các hệ thống quản lý và công nghệ mang tính kế thừa, khiến quá trình chuyển đổi số diễn ra chậm hơn so với một số doanh nghiệp tư nhân năng động. Bên cạnh đó, xu hướng chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng xanh và phát thải thấp cũng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG
Hoàn thiện thể chế và cơ chế thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp
Một trong những điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN là tiếp tục hoàn thiện khung thể chế theo hướng minh bạch, phù hợp với nguyên tắc của nền kinh tế thị trường hiện đại và các chuẩn mực quản trị quốc tế. Cụ thể: (i) Hoàn thiện cơ chế thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp theo hướng chuyên nghiệp, tập trung vào việc giám sát chiến lược phát triển, hiệu quả đầu tư và quản trị rủi ro của doanh nghiệp. Theo khuyến nghị của OECD, việc phân định rõ ràng giữa chức năng quản lý nhà nước và chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp nhà nước. (ii) Hoàn thiện cơ chế công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp, bảo đảm các quyết định đầu tư, tái cơ cấu và phân bổ nguồn lực được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc thị trường và hiệu quả kinh tế. Việc tăng cường minh bạch thông tin không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả giám sát của Nhà nước mà còn tạo điều kiện để thị trường và xã hội tham gia giám sát hoạt động của khu vực DNNN.
Đổi mới mạnh mẽ mô hình quản trị doanh nghiệp nhà nước
Đổi mới mô hình quản trị doanh nghiệp là một trong những khâu then chốt trong quá trình cải cách DNNN. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, các DNNN cần từng bước áp dụng các chuẩn mực quản trị doanh nghiệp hiện đại nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh. Cụ thể: (i) Nâng cao vai trò và trách nhiệm của hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành viên trong hệ thống quản trị DNNN. Hội đồng quản trị cần thực sự trở thành trung tâm của quá trình hoạch định chiến lược phát triển, giám sát hoạt động của ban điều hành và bảo đảm việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp. (ii) Từng bước áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp hiện đại như phân định rõ vai trò giữa quản trị và điều hành, thiết lập các ủy ban chuyên trách trong hội đồng quản trị (ủy ban kiểm toán, ủy ban nhân sự, ủy ban chiến lược) và tăng cường hệ thống kiểm soát nội bộ. (iii) Hoàn thiện cơ chế tuyển chọn, đánh giá và sử dụng đội ngũ lãnh đạo DNNN theo hướng minh bạch và dựa trên năng lực, tiêu chí đánh giá cần gắn với các chỉ tiêu tài chính, hiệu quả sản xuất kinh doanh và mức độ thực hiện các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp.
Nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng với cơ chế thị trường
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNN trên thị trường là yêu cầu mang tính cấp thiết. Cụ thể: (i) Tiếp tục đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại DNNN theo hướng tập trung vào những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, đặc biệt là các ngành hạ tầng chiến lược, năng lượng, tài chính và những lĩnh vực mà khu vực tư nhân chưa có điều kiện tham gia hoặc khó có khả năng đầu tư. (ii) Tiếp tục thúc đẩy quá trình cổ phần hóa và thoái vốn nhà nước tại những doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực mà Nhà nước không cần nắm giữ chi phối. (iii) Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, hạn chế các đặc quyền mang tính hành chính và khuyến khích doanh nghiệp nhà nước hoạt động theo các nguyên tắc của thị trường.
Thúc đẩy đổi mới công nghệ và chuyển đổi số trong doanh nghiệp nhà nước
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số trở thành yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng thích ứng với môi trường kinh doanh mới. Tập trung vào các hướng sau: (i) Từng bước xây dựng và triển khai các hệ thống quản trị doanh nghiệp hiện đại dựa trên nền tảng số, bao gồm hệ thống quản trị dữ liệu, hệ thống quản lý tài chính và các nền tảng phân tích dữ liệu phục vụ quá trình ra quyết định, góp phần tăng cường minh bạch hóa thông tin và cải thiện khả năng kiểm soát rủi ro trong hoạt động. (ii) Các DNNN, đặc biệt trong các lĩnh vực năng lượng, công nghiệp và hạ tầng, cần chủ động đầu tư vào các công nghệ tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và thân thiện với môi trường nhằm đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế. Những xu hướng chính sách như Carbon Border Adjustment Mechanism của Liên minh châu Âu cho thấy việc chuyển đổi sang mô hình sản xuất xanh sẽ trở thành yêu cầu tất yếu đối với các doanh nghiệp tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Phát huy vai trò dẫn dắt và lan tỏa của doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế
Theo định hướng của Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 79 -NQ/TƯ, DNNN cần tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, việc phát triển DNNN không nhằm mở rộng phạm vi hoạt động mà tập trung hình thành những “đầu tàu” trong các lĩnh vực then chốt có ý nghĩa nền tảng đối với ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh kinh tế và năng lực cạnh tranh dài hạn của quốc gia. Trọng tâm là năng lượng, kết cấu hạ tầng, công nghiệp nền tảng, logistics, tài chính - ngân hàng, viễn thông, hạ tầng số và một số ngành công nghệ chiến lược. Trong thời gian tới, DNNN cần tăng cường liên kết với khu vực doanh nghiệp tư nhân, thúc đẩy hình thành các chuỗi giá trị và hệ sinh thái sản xuất - kinh doanh có khả năng cạnh tranh cao. Đồng thời, các tập đoàn và tổng công ty nhà nước cần đóng vai trò chủ lực trong việc triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn, bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh lương thực và các lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tài liệu tham khảo:
- Ban chấp hành Trung ương (2026). Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Hà Nội, 2026.
- Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước trong giai đoạn mới.
- Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí Về tình hình kinh tế - xã hội quý VI và năm 2025, Hà Nội, ngày 05/01/2026.
- Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
- Đoàn Thị Kim Dung, Lê Minh Hương (2026). Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước: Thực trạng và định hướng đến năm 2030, Tạp chí Kinh tế - Tài chính, Kỳ 1 - Tháng 3/2026.
- Nguyễn Thu Huyền (2026). Nghị quyết 79 xác lập cơ chế quản lý toàn diện nguồn lực kinh tế Nhà nước. https://www.nguoiduatin.vn/nghi-quyet-79-xac-lap-co-che-quan-ly-toan-dien-nguon-luc-kinh-te-nha-nuoc-204260225091607825.htm#.
| Bài đã đăng trên Tạp chí Kinh tế - Tài chính bản in Kỳ 1 - Tháng 4/2026 |

